Ngày ấy, tôi
là sinh viên mới ra trường, đầu năm 1969 tôi về nhận công tác tại một cơ quan
trung ương. Nhà tôi ở cuối thành phố, nên đi làm khá xa. Tôi thường đi xe điện,
giữa đường mất điện thì đi bộ. Vì vậy bao giờ tôi cũng phải đi làm sớm. Buổi
trưa và chiều tôi ăn cơm tại nhà ăn liên
cơ quan, tối đến thư viện Hà Nội đọc sách luôn và chừng 10 giờ đêm mới về nhà.
Tôi không có gì hấp dẫn về hình thức nếu không nói là còn hơi xấu. Tôi cao chừng
hơn 1m60 nhưng gầy lắm. Bạn bè thường trêu tôi là gió sông hồng thổi cũng bay.
Da mặt tôi đã xanh lét còn lốm đốm nhiều trứng cá. Tôi phải buông xòa mấy sợi
tóc trước trán để che bớt những nốt đầu đen. Đôi mắt không to tròn, lại chỉ có một
mí rưỡi, lòng trắng không trắng hẳn lòng đen không đen hẳn, nghĩa là cứ mờ mờ
nhàn nhạt. Lông mày thì vừa thưa vừa rộng. Tôi không có ý thức làm đỏm gì, thậm
chí đi làm không soi gương mấy khi. Tôi chỉ có mấy sơ mi may kiểu hồng công thẳng
đuỗn che bộ ngực không hề nở nang nịt trong áo lót ấm ớ vải bông mềm oặt. Quần
thì mua sẵn loại rẻ tiền nhất, loanh quanh ghi ghi rồi nâu nâu tôi cũng chẳng để
ý con gái thì nên mặc màu gì, hoặc cái quần có phù hợp tông màu với áo
không. Tóc tôi dài và dày, tết thành hai
đuôi sam buông quá gấu áo, kể cũng gọi là tha thướt nhưng khốn nỗi đi đứng chẳng
khoan thai uyển chuyển chỉ hùng hục bước nhanh quá đàn ông, chân lại đi dép cao
su hoặc dép lê bạc màu cu cũ nên các đấng mày râu có định để ý cũng phải tắt lụi
ý đồ. Tôi chẳng lo lắng vì thực tình tôi đã có người yêu từ khi học đại học, đó là Minh Quang, bạn cùng lớp. Minh Quang bảo anh yêu tôi không phải vì hình thức, mà vì tôi học giỏi, ít nói nhưng có
cái gì đó sâu lắng bên trong và tình cảm. Minh Quang biết tôi yếu đuối hay khóc, còn Minh Quang thì cứng rắn vậy là ổn, chứ hai đứa cùng một tính nết thì có khi cũng sinh chuyện.
Chúng tôi ở xa nhau, nên chỉ gặp nhau cuối tuần, đi dạo trong công viên chừng hơn tiếng đồng hồ là phải về nhà rồi vì me tôi khe khắt quản lý chặt chẽ lắm.
Chúng tôi ở xa nhau, nên chỉ gặp nhau cuối tuần, đi dạo trong công viên chừng hơn tiếng đồng hồ là phải về nhà rồi vì me tôi khe khắt quản lý chặt chẽ lắm.
Hàng ngày đi
làm ở cơ quan tôi buồn vì nhớ bạn bè, nhớ người yêu. Tôi hay lẻn lên thư viện
cơ quan tìm sách đọc thêm, hoặc tham khảo để soạn các bài giảng của mình. Chả
là tôi hay phải vào trường dạy nghề làm giáo viên không chuyên trách.
Hầu như lúc nào lên thư viện, tôi cũng gặp anh Hoàng Thư. Anh học cùng trường hơn tôi hai khóa. Anh bị tật gù lưng và gù cả ngực. Khuôn mặt anh gầy, da xanh tai tái và gò má hơi cao. Cặp kính cận nhiều đi ốp lúc nào cũng gắn trên đôi mắt của anh chừng như mệt mỏi. Anh làm chuyên môn rất giỏi. Thủ trưởng các cấp tin cậy anh, hay phân công anh soạn bài để họ đi giảng ở các bộ ngành, các trường đại học khi cần. Anh làm việc cần mẫn, nghiêm túc, nhưng hầu như không quen không chơi với ai cả. Vậy mà anh lại rất hay châm chọc mọi người, nói thẳng một cách thô lỗ khiến người ta mất mặt. Gặp ai dáng vẻ hơi mộc mạc ăn mặc xuềnh xoàng thì anh bảo người ta là trông cậu quê mùa lắm, lôi thôi luộm thuộm mà đến cơ quan à. Gặp người đang tra cứu sách tham khảo thì anh bảo ông biết cái gì mà lục lọi ghê thế? Làm sao ông đọc được sách chữ tây hả? ông học ngoại ngữ từ bao giờ vậy? Nghĩa là đủ kiểu khiến người ta phát điên phát rồ lên. Ai không biết tưởng anh thần kinh chập mạch. Nhưng nhìn vào công việc của anh thì chẳng ai dám tin người thần kinh lại làm lắm việc khó đến thế. Anh chủ trì biên soạn từ điển của ngành, anh thông thạo tới năm ngoại ngữ. Tiếp chuyên gia nước ngoài sang làm việc hợp tác bao giờ cơ quan cũng yêu cầu phải có anh.
Từ hôm tôi đến thư viện, anh đã mấy lần trêu tôi rồi. Anh bảo cái cô này ở đâu về đây ấy nhỉ? À à cô học ở tổng hợp toán ra đấy, cùng trường tôi, nhưng cô học chuyên ngành gì Phương pháp tính à, ôi trời vớ vẩn quá. Bây giờ cô đi phổ cập sử dụng bàn tính gẩy, hướng dẫn sử dụng một lũ máy cơ điện, rồi nay mai cô lập chương trình và sử dụng cái máy tính điện tử đèn sáng lập lòe là cùng chứ gì, càng dấm dớ hơn… Cô mang danh cử nhân Toán mà không xấu hổ à? Chẳng biết đáp chuyện với anh thế nào, lúc đầu tôi hơi khó chịu, nhưng nhìn dáng vẻ anh, tôi thấy cứ tồi tội thế nào ấy. Thành ra tôi không dám nổi cáu bao giờ, chả bù cho một anh cùng phòng, mấy lần kể với tôi:”Tớ ghét thằng cha ấy quá. Nó coi khinh người ta như mẻ. Nó luôn trêu trọc chửi vỗ mặt vào tất cả. Có những lúc, tớ tức quá, chỉ muốn túm xách cái đám gồ gồ ở lưng hay ở ngực hắn lên rồi ném xuống cho hả thôi…” Tôi gắng hình dung thông cảm đôi phần nhưng cái “định” của anh ấy thì khiếp quá, rợn người, ai lại ác thế cơ chứ.
Hầu như lúc nào lên thư viện, tôi cũng gặp anh Hoàng Thư. Anh học cùng trường hơn tôi hai khóa. Anh bị tật gù lưng và gù cả ngực. Khuôn mặt anh gầy, da xanh tai tái và gò má hơi cao. Cặp kính cận nhiều đi ốp lúc nào cũng gắn trên đôi mắt của anh chừng như mệt mỏi. Anh làm chuyên môn rất giỏi. Thủ trưởng các cấp tin cậy anh, hay phân công anh soạn bài để họ đi giảng ở các bộ ngành, các trường đại học khi cần. Anh làm việc cần mẫn, nghiêm túc, nhưng hầu như không quen không chơi với ai cả. Vậy mà anh lại rất hay châm chọc mọi người, nói thẳng một cách thô lỗ khiến người ta mất mặt. Gặp ai dáng vẻ hơi mộc mạc ăn mặc xuềnh xoàng thì anh bảo người ta là trông cậu quê mùa lắm, lôi thôi luộm thuộm mà đến cơ quan à. Gặp người đang tra cứu sách tham khảo thì anh bảo ông biết cái gì mà lục lọi ghê thế? Làm sao ông đọc được sách chữ tây hả? ông học ngoại ngữ từ bao giờ vậy? Nghĩa là đủ kiểu khiến người ta phát điên phát rồ lên. Ai không biết tưởng anh thần kinh chập mạch. Nhưng nhìn vào công việc của anh thì chẳng ai dám tin người thần kinh lại làm lắm việc khó đến thế. Anh chủ trì biên soạn từ điển của ngành, anh thông thạo tới năm ngoại ngữ. Tiếp chuyên gia nước ngoài sang làm việc hợp tác bao giờ cơ quan cũng yêu cầu phải có anh.
Từ hôm tôi đến thư viện, anh đã mấy lần trêu tôi rồi. Anh bảo cái cô này ở đâu về đây ấy nhỉ? À à cô học ở tổng hợp toán ra đấy, cùng trường tôi, nhưng cô học chuyên ngành gì Phương pháp tính à, ôi trời vớ vẩn quá. Bây giờ cô đi phổ cập sử dụng bàn tính gẩy, hướng dẫn sử dụng một lũ máy cơ điện, rồi nay mai cô lập chương trình và sử dụng cái máy tính điện tử đèn sáng lập lòe là cùng chứ gì, càng dấm dớ hơn… Cô mang danh cử nhân Toán mà không xấu hổ à? Chẳng biết đáp chuyện với anh thế nào, lúc đầu tôi hơi khó chịu, nhưng nhìn dáng vẻ anh, tôi thấy cứ tồi tội thế nào ấy. Thành ra tôi không dám nổi cáu bao giờ, chả bù cho một anh cùng phòng, mấy lần kể với tôi:”Tớ ghét thằng cha ấy quá. Nó coi khinh người ta như mẻ. Nó luôn trêu trọc chửi vỗ mặt vào tất cả. Có những lúc, tớ tức quá, chỉ muốn túm xách cái đám gồ gồ ở lưng hay ở ngực hắn lên rồi ném xuống cho hả thôi…” Tôi gắng hình dung thông cảm đôi phần nhưng cái “định” của anh ấy thì khiếp quá, rợn người, ai lại ác thế cơ chứ.
Mấy bữa rồi tôi
bị cúm nghỉ ở nhà. Tôi mới đi làm trở lại. Anh Thư nhìn thấy tôi lần này vồn vã
không nói những lời khó chịu nữa. Anh chỉ bảo: “Chào cô Thư, cô đi đâu thế
không thấy cô lên thư viện đọc sách nữa?” Anh nhìn thẳng tôi, miệng cười cười
nhưng tôi đọc được ở đó một nỗi buồn khó tả. Tôi hơi lúng túng nhưng chưa bao
giờ tôi thấy anh lành hiền như hôm nay, cứ như thể anh biến thành một con người
khác. Tôi giải thích việc mình vắng mặt, rồi tự nhiên đánh bạo hỏi anh sao hôm
nay không trêu tức tôi như khi tấn công mọi người không chút nề hà. Anh lặng đi
một lát, rồi khẽ bảo: “Thật ra, tôi không có ý châm chọc ai cả. Nhưng nói thật
với cô Thư, tôi luôn cảm thấy mình quá dị dạng trước mọi người. Nên tôi phải chủ
động tấn công họ trước. Một khi họ nổi khùng lên với tôi, thì tôi đắc thắng vì
tôi là người chủ động tạo nên cơn tức bực này. Họ ghét tôi, đành vậy, nhưng
ghét là bởi tôi đã coi họ không ra gì chứ chẳng phải họ khinh thường tôi, cô hiểu
không?” Tôi khuyên anh chân thành: “Vâng, em hiểu. Với em thì không sao, anh có
thể trêu tức đủ điều, em không giận anh đâu. Nhưng với người khác, anh đừng làm
thế. Ai cũng quí và kính trọng anh. Anh đừng mặc cảm làm gì” Hoàng Thư tư lự: “Phải,
tôi biết…Thú thực với cô, từ khi quen cô, tôi cũng dần dần bớt châm chọc đi chứ
ngày trước thì còn kinh khủng hơn nhiều”. Tôi thấy vui
vui:” Vâng. Em mong anh sống thoải mái, hòa đồng với tất cả, chính anh sẽ thấy dễ chịu hơn. Mà
em nghe nhiều người khen anh lắm anh Thư ạ. Họ còn kể với em là từ nhỏ anh toàn
tự học thôi, vào đại học tổng hợp anh thi theo kiểu thí sinh tự do rồi đậu và
đây là lần đầu tiên anh tới trường học, có phải thế không ạ?” Anh Thư gật đầu,
không nói thêm gì nữa. Một lát sau anh mới nói khẽ, “lúc nào rảnh hoặc nghỉ giải
lao khi làm việc quá căng thẳng cô cứ lên thư viện nhé, ta nói với nhau nhiều
chuyện hơn”.
Thế là từ đó, tôi và anh dần trở nên thân thiết. Anh vẫn trêu tôi vẫn bông đùa đủ
thứ nhưng có vẻ chân tình hơn, không xa lạ như những ngày đầu mới quen. Thi thoảng
chúng tôi đi dạo bên nhau trên từng con phố nhỏ của Hà Nội 36 phố phường. Một lần,
chúng tôi đi quanh hồ Hoàn Kiếm. Khi đó sắp tết nguyên đán. Thực ra tôi chẳng
biết quê anh ở đâu nên cứ hỏi bừa:”Tết này anh Thư có về quê không ạ?” Anh cười
hồn hậu: “Không, vì gia đình tôi ở cả trên này từ lâu rồi, quê Thái Bình chỉ
còn ít anh em họ hàng thôi cô ạ”.
- Anh
có đi đón giao thừa không anh?
- Có,
ngày trước tôi hay ra hồ Hoàn Kiếm xem thiên hạ hái cành lộc…nhưng từ hai năm lại
đây tôi không đi nữa.
- Vâng, đêm giao thừa thường lạnh và mưa phùn,
anh ra ngoài phải cẩn thận, mặc áo ấm…Sao mấy năm nay anh lại không đi nữa?
- Nghe cô hỏi, tôi chợt nhớ lại một chuyện buồn.
Đó là cái Tết năm kia, như lệ thường, gần đến Giao thừa là tôi đi bộ ra hồ Hoàn
Kiếm. Cô biết đấy, nhà tôi ra Hồ khá gần. Đêm hôm đó, mọi người đổ ra đường
đông lắm. Tôi lững thững đi trong dòng người hướng về phía hồ. Năm nào cũng vậy,
tôi chỉ đi một mình cô ạ.
Tôi chưa hiểu chuyện gì đã thấy lòng nao nao:
Tôi chưa hiểu chuyện gì đã thấy lòng nao nao:
- Dạ,
em hiểu. Anh sẽ cảm thấy buồn?
Anh lắc đầu:
- Không, tôi quen rồi. Tôi chẳng buồn rầu gì hết nếu như không xảy ra một tình huống bất ngờ và khó chịu. Tôi đang đi, thì trông thấy đi ngược lại về phía tôi, cặp vợ chồng anh chị tôi cùng một đám đông bè bạn nói cười vui vẻ. Tôi hơi sững người, nhưng cũng đang định đáp lời anh chị khi họ hỏi tôi. Nhưng không phải thế, anh chị lơ đi coi như không biết tôi là ai. Chắc anh chị xấu hổ ngượng ngùng với bạn bè rằng đã có người em trai xấu xí tật nguyền như tôi mà cô.
Tôi không cầm lòng được dụi dụi mắt:
- Ôi…em chẳng nghĩ thế…
- Không, tôi quen rồi. Tôi chẳng buồn rầu gì hết nếu như không xảy ra một tình huống bất ngờ và khó chịu. Tôi đang đi, thì trông thấy đi ngược lại về phía tôi, cặp vợ chồng anh chị tôi cùng một đám đông bè bạn nói cười vui vẻ. Tôi hơi sững người, nhưng cũng đang định đáp lời anh chị khi họ hỏi tôi. Nhưng không phải thế, anh chị lơ đi coi như không biết tôi là ai. Chắc anh chị xấu hổ ngượng ngùng với bạn bè rằng đã có người em trai xấu xí tật nguyền như tôi mà cô.
Tôi không cầm lòng được dụi dụi mắt:
- Ôi…em chẳng nghĩ thế…
Anh hơi ngừng lại trong giây lát, hít một hơi thở sâu:
- Cô
không nghĩ thế nhưng sự thực là thế. Tôi tủi thân lắm cô Thư ạ, mặc dầu bình
thường tôi cứng cỏi như cô đã biết. Tôi trở về, tự thề với mình rằng, sẽ không
bao giờ đi đón giao thừa nữa. Nhưng tôi không ở nhà, tôi vẫn ra đường, đi một
mình trong phố vắng, và không dám nhìn vào nhà ai, lỡ bắt gặp người ta âu yếm
nhau, hay thấy cảnh vợ chồng con cái quấn quít bên nhau…
Từ hôm nghe anh Thư kể chuyện buồn trong đêm giao thừa ấy, lòng tôi chẳng
lúc nào yên. Tôi tự bảo mình phải tìm mọi cách để làm cho thiên hạ biết rằng
anh Thư chẳng làm sao cả, anh cũng có … bạn gái như mọi thanh niên khác, bạn
gái ấy là tôi - mỗi tội bạn gái của anh không đẹp, nhưng thế thì đã sao nào, có
phải mọi cô gái trên đời đều xinh xắn cả đâu?
Thế là tôi vào “cuộc” ngay. Tôi tha thiết mời anh đi xem phim tại rạp
Tháng Tám và anh nhận lời. Tôi hẹn chờ anh ở vườn hoa Mê Linh gần đó. Tới chỗ hẹn,
anh đã ở đó từ bao giờ rồi. Hôm ấy, tôi cố tình mặc chiếc sơ mi popolin trắng tinh cổ cánh sen tức là
mặc chiếc áo đẹp nhất nhưng khổ nỗi cái quần thì mầu nâu bàng bạc trông gớm chết.
Tôi nghĩ chuyện mặc áo đó vì anh Thư cũng hay mặc áo trắng, nên tôi hi vọng có
sự “đồng bộ”. Nào ngờ anh lại mặc sơ mi nâu sẫm làm nổi bật nước da trắng yếu ớt
của anh. May mà qua cặp kính cận trong suốt, có thể nhìn thấy đôi mắt anh hôm
nay thật linh hoạt khác thường, chẳng còn chút gì căng thẳng trên bộ mặt khắc khổ như mọi khi
nữa. Bất giác tôi tủm tỉm cười rồi hỏi như để mà hỏi: “Anh ăn cơm rồi chứ ạ?”
Anh nháy mắt cười trêu: “Chả lẽ tôi lại nhịn đói đi xem phim với cô sao?” Đoạn
anh hơi băn khoăn: “Mà ta xem phim gì thế cô?” khiến tôi lúng túng quá: “Dạ, em
… chưa biết. Ta cứ đến đó là xem luôn mà anh. Em vẫn hay đi xem thế. Thôi mình
đi kẻo muộn anh ạ”.
Chúng tôi đi bên nhau sóng đôi. Tôi tết hai đuôi sam dài và mượt, buộc dây chun hẳn hoi. Tôi gắng đi đứng thong thả ngang tầm bước chân của anh. Anh bị gù lưng và ngực nên phần trên ngắn, còn chân thì bình thường, nhưng chắc là mảnh gầy ẩn trong chiếc quần vàng nhạt hằn mép là thẳng tắp. Tôi cao hơn 1m6 mà anh chưa tới 1m4 nên tôi không dám đi sát vào anh. Tôi không ngại gì về mình, tôi chỉ lo anh có chút mặc cảm về sự không cân xứng ấy. Với lại, ngày đó tôi luôn tâm niệm cái sự “nam nữ thụ thụ bất thân” nên không bao giờ dám có sự va chạm nào với người khác giới, chỉ ngoại trừ riêng Minh Quang thì dĩ nhiên tôi có thể “ngả ngốn” mà cũng chỉ vào lúc hai đứa đi với nhau trong khoảng tôi tối rất ngắn ngủi nào đấy thôi. Gọi là không dám đi sát, nhưng tôi cảm thấy tôi có đủ “tư thế” để mọi người nhìn vào hiểu ngay rằng chúng tôi là một “cặp đôi” hẳn hoi, và tôi cảm thấy tự hào về điều đó, niềm tự hào tạo ra cho người bạn lớn mà tôi quí trọng.
Chúng tôi đi bên nhau sóng đôi. Tôi tết hai đuôi sam dài và mượt, buộc dây chun hẳn hoi. Tôi gắng đi đứng thong thả ngang tầm bước chân của anh. Anh bị gù lưng và ngực nên phần trên ngắn, còn chân thì bình thường, nhưng chắc là mảnh gầy ẩn trong chiếc quần vàng nhạt hằn mép là thẳng tắp. Tôi cao hơn 1m6 mà anh chưa tới 1m4 nên tôi không dám đi sát vào anh. Tôi không ngại gì về mình, tôi chỉ lo anh có chút mặc cảm về sự không cân xứng ấy. Với lại, ngày đó tôi luôn tâm niệm cái sự “nam nữ thụ thụ bất thân” nên không bao giờ dám có sự va chạm nào với người khác giới, chỉ ngoại trừ riêng Minh Quang thì dĩ nhiên tôi có thể “ngả ngốn” mà cũng chỉ vào lúc hai đứa đi với nhau trong khoảng tôi tối rất ngắn ngủi nào đấy thôi. Gọi là không dám đi sát, nhưng tôi cảm thấy tôi có đủ “tư thế” để mọi người nhìn vào hiểu ngay rằng chúng tôi là một “cặp đôi” hẳn hoi, và tôi cảm thấy tự hào về điều đó, niềm tự hào tạo ra cho người bạn lớn mà tôi quí trọng.
Tới rạp, tôi liếc nhìn mấy tấm phông quảng cáo, rồi hồn nhiên la to: “Anh
Thư này, hôm nay người ta chiếu phim hài đấy, chắc là sẽ vui lắm”. Anh im im
hơi khó hiểu rồi như lơ đãng: “Ờ ờ hi vọng là thế”. Tôi vẫn say sưa kể lể: “Em
thích rạp chiếu bóng này, xem dễ chịu lắm anh ạ. Nhưng hôm nào chiếu phim hay
thì khó mua vé lắm, đông người mua đã đành mà cái chính là “phe” sẽ mua hết,
không tới lượt mình đâu. Anh chờ em một chút nhé, em mua vé và chắc chắn sẽ chọn
được chỗ thật tốt”. Tôi chạy vào ô cửa bán vé, gần như tức khắc tôi giơ giơ hai
vé trước mặt anh rồi nhẹ kéo tay anh bước vào rạp.
Nhưng thật khốn khổ, bữa ấy,
cảnh trên phim hài lại xuất hiện một chú hề có diện mạo y chang anh Hoàng Thư.
Tôi hoảng hốt, mặt tái dại quay sang anh hổn hển: “Anh Thư ơi, em hơi mệt, như
là bị chóng mặt ấy. Ta phải về thôi anh ạ. Khi khác sẽ xem. Anh Hoàng Thư nhìn
tôi im lặng và cũng đứng lên lật bật bước đi. Tôi bấm đèn pin thủ sẵn trong túi
để hai anh em thấy đường len lén đi ra trước ánh mắt hơi soi mói của mọi người
xung quanh.
Ra khỏi rạp, anh lo lắng : “Em có sao không Kim Thư?” Nếu tôi không
nhầm, đây là lần đầu tiên anh Thư gọi
tôi là “Em”, tôi xúc động : “Dạ dạ, em không sao. Em hơi choáng, em vẫn bị thế
luôn anh ạ…Ra ngoài này dễ thở hơn nên em dễ chịu ngay thôi”.
Chúng tôi thong thả đi bộ về phía vườn hoa Mê Linh. Trước khi chia tay,
tôi ngập ngừng: “Em xin lỗi anh, anh Thư nhé. Em chẳng biết nói sao bây giờ. Em
không cố tình, chỉ là ngẫu nhiên xem phải cái phim này...” Anh im lặng nhìn tôi
một lát, không dấu được ánh mắt buồn khôn tả.
Vậy là sau lần ấy, tôi không dám rủ anh đi xem phim xem hát xem kịch gì nữa.
Tôi chỉ còn tìm đến nhà riêng thăm anh, thăm bố mẹ anh để anh vui thôi, hoặc
chúng tôi dạo quanh tìm ghế đá bên hồ ngồi mà nói chuyện tầm phào. Nhưng để làm
được chuyện đó đối với tôi cũng là cả một nan trình. Cái hồi tôi còn hay đọc
sách ở thư viện Hà Nội đến 10 giờ đêm mới về thì tôi cứ việc bỏ thư viện mà đi
dạo với anh, chứ về sau này, tôi bận chuẩn bị cho đám cưới của mình, thì tôi
thường phải về nhà sớm. Đã về mà còn đi thì chỉ có cách lẻn như người vụng trộm.
Có lúc tôi lấy xe đạp đi, tôi nói với me tôi là tôi phải đi mượn sách, tôi dặn
me nếu Minh Quang người yêu tôi ghé qua thì bảo chờ tôi về sớm, đừng có đi đâu.
Có hôm, ngại nói với me, tôi tự tiện đi bộ ra khỏi nhà cứ như ra chợ quanh đâu
đấy, thực ra tôi chạy thục mạng leo lên tàu điện để đến bờ hồ rồi lại chạy bộ
vào nhà thăm anh Thư mấy phút rồi lại chạy về ngay. Tôi không hiểu rõ, vậy là
thế nào, tôi chỉ biết tôi tự gán cho mình trách nhiệm, anh Thư phải luôn gặp
tôi, không chỉ trên cơ quan, mà cả khi về nhà nữa. Tôi cần nhìn thấy gương mặt
rạng rỡ của anh cả khi ở nhà cũng như khi anh mải mê đọc đọc viết viết trên bàn
làm việc. Tôi thường hay dúi vào tay anh khi thì một quả mận thật to chín mọng,
tôi đã từng lau nó tới hàng giờ để nó có thể bóng lộn lên; khi thì mấy chiếc kẹo
tây thật ngon ai đó cho tôi. Anh hơn tôi cả tới hơn chục tuổi mà tôi cứ coi anh
như trẻ con bởi tôi chính là con nít thực sự…
Có một lần, trong khi trò chuyện, đột nhiên anh Thư hỏi tôi hình như tôi có người yêu rồi. Tôi cũng thật thà kể ngay, tôi có Minh Quang. Anh lại hỏi dự kiến tương lai thế nào, tôi hơi miễn cưỡng trả lời anh là chúng tôi sắp làm đám cưới. Miễn cưỡng là bởi tự nhiên tôi không thích “khoe” hạnh phúc của mình với anh – người bạn lớn mà tôi biết chắc anh đang rất cô đơn, nhưng tính tôi thật thà không mấy khi nói dối vả lại trong trường hợp này nói dối cũng chẳng để làm gì.
Thế rồi sau một thoáng như phải tự trấn tĩnh lại, anh Thư bảo: “Kim Thư này, anh không hiểu được, không thể hiểu được, vì sao em là một cô gái mới lớn, học hành giỏi giang, có người yêu sớm, … vậy mà lúc nào trông em cũng buồn. Gặp anh, em nói cười hớn hở, nhưng đôi khi anh cảm thấy đó là cái vui giả tạo Thư ạ”
Có một lần, trong khi trò chuyện, đột nhiên anh Thư hỏi tôi hình như tôi có người yêu rồi. Tôi cũng thật thà kể ngay, tôi có Minh Quang. Anh lại hỏi dự kiến tương lai thế nào, tôi hơi miễn cưỡng trả lời anh là chúng tôi sắp làm đám cưới. Miễn cưỡng là bởi tự nhiên tôi không thích “khoe” hạnh phúc của mình với anh – người bạn lớn mà tôi biết chắc anh đang rất cô đơn, nhưng tính tôi thật thà không mấy khi nói dối vả lại trong trường hợp này nói dối cũng chẳng để làm gì.
Thế rồi sau một thoáng như phải tự trấn tĩnh lại, anh Thư bảo: “Kim Thư này, anh không hiểu được, không thể hiểu được, vì sao em là một cô gái mới lớn, học hành giỏi giang, có người yêu sớm, … vậy mà lúc nào trông em cũng buồn. Gặp anh, em nói cười hớn hở, nhưng đôi khi anh cảm thấy đó là cái vui giả tạo Thư ạ”
Nghe anh nói
vậy, tôi nửa thật nửa đùa: “Thôi mà anh. Không có gì đâu ạ. Em thân với anh, em
quí anh, chân thành chứ không bao giờ dám thương hại anh cả. Anh hãy vui với niềm
vui của em đi, anh nghĩ anh lo em giả tạo để làm gì. Mà này em nói cho anh biết
đây, em mà đóng kịch thì có trời cứu, không ai nhận ra được đâu, kể cả anh vốn
lúc nào cũng kiêu căng nghĩ mình thông minh, tự hào là dân Toán chính hiệu, với
cái đám lí thuyết Toán trừu tượng của anh, thì cũng bị em lừa hết ha ha ha!!!” Anh Thư thấy
tôi đùa vui vậy, cũng dí dỏm theo: “Cái cô này gớm thật…Đọc những lá thư của cô
mỗi lần cô đi công tác, tôi chả bị buồn nẫu ruột ra là gì, nhưng thôi tôi không
căn vặn cô nữa…” Thấy vậy, tôi bật ứng khẩu mấy câu vần vè: “He he lại đổi giọng CÔ/Khiến cho em thấy lo lo thế nào/Thôi
đành xa chốn ồn ào/Ai về nhà nấy tào lao một mình/Hẹn anh lúc khác rập rình/Anh
vui nhiều nhé giữ tình mến thương/Đường về “thơ cóc” còn vương/Chúc anh chớ có ẩm
ương nữa mà” rồi chạy thục mạng đi giơ tay vẫy vẫy tạm biệt.
Rồi những buổi
trưa nghỉ tại cơ quan, anh em tôi cũng thường tâm sự chia sẻ với nhau hầu như
không bao giờ hết chuyện. Có lần tôi hỏi anh bâng quơ mà rất nghiêm trang : “Em nghĩ, anh Thư ạ, niềm vui được làm việc
và làm việc được là niềm hạnh phúc lớn lao nhất quyết định mọi hạnh phúc khác
trên đời này. Anh có thấy thế không?” Anh nhìn tôi thật lâu như dò xét điều gì
rồi gật đầu: “Em nói đúng. Nhưng hình như, khi người ta có “mọi hạnh phúc khác”
thì người ta mới nghĩ vậy!”
Tôi như đứa
trẻ đang tập diễn thuyết trước người thày của mình, mà không chút e dè lo lắng:
“Hạnh phúc chỉ có thể có khi người ta được sống trong tình thương yêu của những
người xung quanh. Tất nhiên có những tình cảm xuất phát từ máu mủ tự nhiên,
nhưng rất đáng quí là tình thương yêu thật sự có được do sức lôi cuốn của trái
tim mình”. Anh Thư trầm ngâm: “Nhưng không phải tất cả đều đáng yêu thương vì
yêu tất cả tức là không yêu ai cả. Và dẫu với những người ta mến yêu, cũng phải
thấy mỗi người đều có mặt xấu nhất định. Quên điều đó, lí tưởng hóa cuộc đời
thì chỉ có thể đi đến tan vỡ lòng tin vào nó và cuối cùng chỉ thấy một màu bi
quan xám xịt”.
Tôi nhìn đồng
hồ, sắp tới giờ làm việc rồi, tôi cười: “Hay thật. Tự nhiên hôm nay hai anh em mình
lại lý sự ghê thế anh Thư nhỉ” Anh rất thật thà: “Anh bảo thật này, anh thích
nói chuyện với em, Kim Thư ạ. Không rõ vì sao…” Tôi hơi ngượng ngập rồi bình
tĩnh lại ngay: “Nói chuyện với anh em lại nhớ đến cái câu “tạch tạch sè” ngày
xưa “Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn…”. Mà thôi, em đi về đây. Chiều nay
nhà em có việc em xin nghỉ phép một buổi. Anh Thư ở lại làm việc ngoan và chăm
chỉ nhé hé hé hé…”
Cứ thế, cứ
thế, chúng tôi luôn gặp nhau nhiều hơn cả Minh Quang và tôi gặp nhau. Chẳng những
thế, bao lá thư anh gửi tôi và ngược lại cứ dồn dập đến, khi thì qua đường bưu
điện, khi thì qua hộp thư cơ quan, khi thì đưa trực tiếp. Anh tự day dứt mình :
“Một ngày gần đây, hạnh phúc sẽ đến với em, thì không biết lúc đó anh có còn giữ
trọn vẹn tình cảm của anh đối với em như hiện nay không? Thú thực với em, anh
không dám nghĩ nhiều tới ngày mai, và không tin gì ở nó”. Đọc dòng thư mà tôi bật
khóc một mình: “Anh đừng nghĩ thế. Anh phải giữ sức khỏe. Anh đang làm được bao
nhiêu việc có ý nghĩa. Hãy cứ hình dung và tin đi: em mãi là đứa em gái bé nhỏ
của anh, luôn nghe anh tâm tình về những vui buồn của cuộc đời này. Sẽ không có
gì thay đổi trong quan hệ của anh em mình anh Thư ạ…”
Tôi gắng nén
lòng nhưng thực sự có những lúc tôi cảm thấy không thể chịu đựng được nữa, người
tôi cứ run lên khi vẳng bên tai tôi lời anh gọi thiết tha: “Em ơi! dầu cuộc sống
bên ngoài có tươi đẹp bao nhiêu, anh vẫn thấy nó chẳng hứa hẹn cho anh một điều
gì sáng sủa hơn. Hoặc là anh phải cứng rắn tàn nhẫn, hoặc là cứ phải đau khổ
không cùng. Hình như hôm nay là lần đầu tiên anh dám nói với em điều này. Và chắc
hẳn em chưa hiểu và cũng không thể ngờ tới được, đó là ảnh hưởng của Thư đã đần dần thay đổi cả nếp sống của anh. Từ chỗ sống
câm lặng, anh đã cảm thấy NÓI là yêu cầu bức thiết của cuộc sống. Mọi lúc vui,
buồn, băn khoăn, hay hào hứng anh đều thấy cần phải nói với em, chỉ có điều hoặc
nói ra thực hoặc chỉ nói ra trong ý nghĩ
của riêng mình mà thôi. Cũng có khi, anh lại tự bảo mình, chả lẽ anh lại
cầu mong cho em … bất hạnh để có thể thương yêu em được nhiều hơn… Hãy tha lỗi
cho anh vì những điều rồ dại ấy …”
Tôi xúc động
lắm: “Dạ, em cảm ơn anh. Em vẫn đang tưởng tượng nghe anh nói đây…và cũng chỉ
hôm nay, em mới mạnh dạn thổ lộ ý nghĩ thầm kín của mình rằng, dù vật đổi sao dời,
mãi mãi em không bao giờ quên được anh, một người bạn lớn bị tật nguyền về thể
xác nhưng trí tuệ tâm hồn thì thật tuyệt vời và nghị lực phi thường hiếm có. Mong
anh hiểu đúng và đừng giận em”.
Mỗi lần gặp
tôi ở cơ quan hoặc tôi đến nhà anh, hoặc chúng tôi đi dạo, tôi đều nhận ra ở
anh một sự đổi khác, anh tự tin hơn, yêu đời hơn. Anh lắng nghe tôi hát những
bài ca về Hà Nội thường không thuộc trọn vẹn tùy theo ngẫu hứng một cách say
sưa và hình như anh rất cảm động. Nhưng anh
luôn luôn phải chịu đựng cái sự ra về vội vã của tôi, còn tôi thì luôn cảm thấy
có lỗi với anh. Anh chẳng biết làm thế nào để giữ tôi lại, đành dúi vào tay tôi
mảnh giấy chữ viết li ti trên tờ giấy po luya đã ngả màu vàng ố, mà phải khi về
nhà, tôi mới chạy vào góc nhà tắm để đọc ngấu nghiến trong một nỗi đau đến như
tê dại:”Trời ơi! cái triết lí muôn sự phục tùng một thứ logic khắt khe tiền định,
con người cứ phải cúi đầu phục tùng, không nên oán trách, cứ kiên trì nhẫn nại
chung sống hòa bình với nó, cái triết lí lạc quan ấy đã từng giúp anh che dấu
tâm tư buồn thảm trước con mắt mọi người, cái triết lí ấy giờ đây hoàn toàn bất
lực. Chỉ còn lại một nỗi buồn tê tái rã rời…Kim Thư ơi, sao em không ở lại, nói
gì thêm nữa với anh, sao em lại cứ phải về???”
”Có lẽ giờ
này em đang lủi thủi ở một bến xe nào hay đang lao đao say lử trên ô tô…Anh buồn
vô hạn Kim Thư ạ. Anh thương cho em, thương cho anh, những con người yếu đuối về
tình cảm, như những chiếc lá đơn độc run bần bật trước mỗi cơn gió nhẹ. Giờ
đây, một mình, anh không còn giữ nổi vẻ bình thản diễu cợt thường ngày nữa, em
có biết không. Kim Thư vô cùng mến thương! Chúng ta đều muốn giữ đến trọn đời
nguyên vẹn tình bạn trong sáng hiện nay, nhưng thực tế phũ phàng trước sau rồi
cũng cướp nó đi. Nỗi lo sợ trước sự mất mát đáng sợ ấy gây ra ở anh niềm đau khổ
ngay từ bây giờ. Và anh cũng sợ rằng, tác hại của nó còn to lớn hơn nhiều. Chắc
gì anh còn đứng vững được trước sự trống rỗng đang đến gần?”
”Anh không
nói rằng em chưa hiểu anh. Nhưng rõ ràng rằng ngày mai của anh khác xa ngày mai
của em, và do đó em không thể nghĩ như anh nghĩ. Em thực ngây thơ khi cho rằng
em có thể giữ nguyên tình bạn đối với anh khi em bước vào cuộc sống hạnh phúc của
mình. Em quên rằng anh khác xa Hiền bạn gái của em hay một người bạn nào khác.
Em vẫn biết rồi đấy, thường thường một con người khao khát cái gì đó thì không
muốn chứng kiến người khác được hưởng điều mà mình không có. Vậy thì làm sao
anh có thể nhận tình thương của em mà không có ý nghĩ dẫu chưa rõ ràng rằng, đó
chỉ là lòng thương hại thừa thãi? Em hiểu anh chứ em Thư, dù rằng anh mến
thương em vô cùng”…
Tôi không đủ
thời gian và sự bình tĩnh để đọc kĩ, tôi chỉ đọc lướt thật nhanh rồi vội vàng đốt đi. Tôi sợ bằng cách nào đó Minh
Quang chồng chưa cưới của tôi bắt gặp. Cũng chẳng sao nhưng tôi chắc Minh Quang
sẽ không vui. Vả lại, chính tôi, tôi cũng cảm thấy sợ … những lá thư của anh,
ngại những lời nồng nàn da diết, sợ những triết lý sâu xa của anh mà nhiều khi
tôi không hiểu được hết. Anh đối với tôi rất đường hoàng, đứng đắn, chưa bao giờ
một lần nắm lấy bàn tay tôi. Tôi cũng vậy, rất tôn trọng anh, không bao giờ xàm
sỡ chỉ ngoại trừ cái lần đi xem phim tôi kéo tay anh vào rạp mà sau đó tôi cứ
thấy mình có cái gì … không phải. Vậy mà chẳng hiểu sao có lần đi công tác xa
nhà tới mấy tuần, khi nhớ về Hà Nội, tôi chẳng nhớ Minh Quang, tôi chỉ nhớ anh
Thư và viết cho anh thôi:”Anh Thư quí mến! Giờ này anh đã nghỉ chưa hay vẫn ngồi
trong thư viện? Em đã dạy xong. Em dự liên hoan chia tay với lớp và bây giờ ra
biển viết thư cho anh đây. Chỉ ngày mai thôi em sẽ về nhà, đến cơ quan là gặp lại
anh rồi, gặp người bạn lớn rất quí mến em chỉ tội hay chọc tức em thôi. Anh nhớ
giữ gìn sức khỏe nhé”.
Thế rồi, đêm đến, tôi đã nằm mơ, tôi lấy anh Hoàng Thư mà không phải làm đám cưới với Minh Quang bạn mình. Thật là kì lạ. Minh Quang mà biết chắc sẽ giận tôi lắm đấy. Khổ thân tôi, tôi chỉ thương anh Thư thôi mà, thương đến thắt lòng. Tôi thầm mong sao Minh Quang hiểu tôi và đừng ghen tức tội nghiệp. Cho đến tận bây giờ ngồi viết những dòng chữ này, đôi lúc tôi cứ tự hỏi mình : chẳng lẽ trong con người ta, có những phút tình thương người còn mãnh liệt hơn cả tình yêu sao?
Thế rồi, đêm đến, tôi đã nằm mơ, tôi lấy anh Hoàng Thư mà không phải làm đám cưới với Minh Quang bạn mình. Thật là kì lạ. Minh Quang mà biết chắc sẽ giận tôi lắm đấy. Khổ thân tôi, tôi chỉ thương anh Thư thôi mà, thương đến thắt lòng. Tôi thầm mong sao Minh Quang hiểu tôi và đừng ghen tức tội nghiệp. Cho đến tận bây giờ ngồi viết những dòng chữ này, đôi lúc tôi cứ tự hỏi mình : chẳng lẽ trong con người ta, có những phút tình thương người còn mãnh liệt hơn cả tình yêu sao?
Rồi cái gì đến
vẫn phải đến. Minh Quang và tôi phải làm bao nhiêu việc để chuẩn bị cho đám cưới
dẫu rằng nó nghèo nàn và đơn giản vô cùng. Chúng tôi đi chọn mua thiếp cưới in
sẵn với cỡ bé nhất đến mức có thể để đỡ tốn tiền. Chúng tôi phải tự viết bằng
tay điền tên khách định mời. Khi viết đến bạn bè ở cơ quan, lướt tới tên anh - Hoàng Thư, tôi hơi sững lại, mặt đần ra, nhưng
rồi Minh Quang tình cờ nhìn tôi, tôi vội vàng cúi xuống viết tiếp thật nhanh, tôi chỉ sửa
bằng tay hai từ “chúng tôi” thành “chúng em” mặc dù sửa thế trông rất cẩu thả. Tôi
chỉ nghĩ giản đơn là chuyện chúng tôi sẽ lấy nhau tôi đã kể với anh lâu nay rồi,
nên bây giờ mời dự cưới thì cứ mời thôi. Nhưng tới khi đưa thiếp thật, đến cơ
quan, đi thẳng phòng làm việc của anh Thư tay cầm thiếp cưới nhỏ, tôi mới thấy mình vô duyên và lúng
túng quá: “Em chào anh ạ”. Anh Thư ngẩng nhìn vồn vã: “Thư đấy à, vào đây. Em
đi đâu có việc gì mà tất tả thế?” Tôi đặt vội thiếp lên bàn nói cụt lủn: “Em gửi
anh…Em xin phép về ạ”. Tôi lật đật quay ra và biết chắc rằng chỉ trong giây
lát, anh sẽ ngơ ngác nhìn theo bóng tôi mà như chết lặng.
Mấy ngày
sau, tôi nhận được tấm thiếp trả lại người gửi là tôi qua đường bưu điện, một tấm
thiếp mời nhỏ xíu đơn độc trong một cái phong bì lớn, tịnh không kèm một ghi
chú nào. Và sau đấy vài ngày nữa, mới lại có lá thư tiếp theo với những dòng chữ
run rẩy: “Thế là hết, tôi đã mất em thật rồi. Nếu có em giờ này, ở đây, chắc
tôi sẽ không dấu nổi nước mắt, và chẳng thể nào câm lặng trước em đâu Kim Thư! Tôi
sẽ phải trở lại bình thản bên mấy cái cấu trúc đại số hay là rã rời tiêu tan tất
cả vì tan vỡ và trống rỗng? Tôi lại trở về với con số không sáng vác ô đi tối
vác về , không còn đủ sức để say mê và ước vọng một cái gì ư??? Nhưng không
sao, em không cần phải thương hại tôi, tôi đủ sức chịu đựng, mà sức chịu đựng
đó chính là do em mang lại cho tôi một cách vô tình trong thời gian qua. Em có
hiểu hay không thì cũng vậy thôi. Chúc em hạnh phúc”.
Thế đấy, anh
đã trở thành "TÔI" xa lạ trong ngôn từ giao tiếp với đứa con gái bé bỏng vừa tinh
tế vừa vụng về mà bấy lâu nay anh trao cho nó tiếng "ANH" trìu mến. Từ đó, chúng
tôi gặp nhau trên đường hay trong cơ quan, không ai nói gì với nhau cả, cũng
không chào hỏi coi như người không quen. Tôi không hẳn giận anh, nhưng thấy anh
lạnh lùng, tôi ngại. Rồi cuộc sống mới cuốn tôi vào những cơn lốc. Chúng cuốn
đi hết những trăn trở trong tình cảm mến thương anh từ lâu nay, mặc dầu tự trong
sâu thẳm tôi vẫn quí trọng anh lắm. Tôi bận mải với tình yêu của tôi, với những
đứa con ra đời. Những năm tháng chiến tranh sơ tán vất vả có lúc cái chết kề
bên cũng như khi lặn lội trên bao nẻo đường công tác trong hòa bình, vật lộn với
cái khó khăn thiếu thốn nghèo nàn đến cùng cực không bao giờ khóc, mà chỉ cười
với hạnh phúc đầm ấm mãn nguyện bên chồng con, tôi hầu như đã quên anh
Hoàng Thư trong tâm tưởng. Thì ra ngày xưa anh bảo tôi trao cho anh "tình thương
hại thừa thãi" lại là đúng hay sao? mặc dù tôi không cố ý. Tôi không biết, không
nghĩ lại, cũng không dằn vặt gì cả. Sau này, khi về già, đã sống gần hết đời
người rồi, tôi mới lờ mờ hiểu ra rằng cái “duyên” của chúng tôi chỉ đến thế.
Nhưng quả là hợp rồi tan, tan xong lại hợp là câu chuyện sắp đặt của “thượng đế”.
12 năm sau khi gửi trả lại cái thiếp cưới bé nhỏ, anh Thư gửi cho tôi một lá
thư nói lời xin lỗi. Anh xin lỗi vì ngày ấy, anh đã hành động như một đứa trẻ dỗi
dằn. Anh bảo rằng thời gian cứ lặng lẽ trôi, dẫu tôi có quên anh, hình ảnh của
tôi vẫn luôn ở trong anh. Anh vẫn giữ nguyên những bức thư tôi tâm sự an ủi động
viên anh ngày nào, chứ không như tôi đốt thư anh dần theo năm tháng. Tôi phải đốt
ngay từng bức thư sau mỗi lần đọc vội vàng để bảo vệ tình yêu với người chồng sắp
cưới. Thì làm sao khác được, tôi và Minh Quang yêu nhau cũng là duyên trời định
đoạt. Tôi chẳng yêu ai ngoài Minh Quang. Tôi chưa bao giờ suy nghĩ so sánh rằng Minh Quang thể
hiện tình cảm sự quan tâm đối với tôi khác gì tôi nhận được ở anh Hoàng Thư để
mà vui buồn vẩn vơ. Tôi thường nghĩ, dường như Minh Quang sinh ra là để có tôi rồi, Minh Quang có đầy đủ tình cảm vợ con và người thân trong đại gia đình của anh. Minh Quang vô tư sống,
học tập, giảng dạy, …với tất cả nhiệt huyết của một người thanh niên trong thời
đại mới, một người thầy giáo khoác quân phục sĩ quan, Minh Quang có tâm hồn lành mạnh lạc
quan thậm chí hơn cả những gì có thật trong đời. Vậy thì việc tôi thương xót
người bạn lớn tuổi tài giỏi mà bị tật nguyền, phải chịu đựng thiệt thòi đủ thứ cũng
là chuyện dễ hiểu, tình cảm của tôi là trong sáng, tôi chẳng có lỗi gì. Có điều
khi người bạn ấy lảng tránh thì tôi không thể chạy theo anh ấy nữa. Tôi chỉ là
một cô gái mới lớn lên, cuộc đời chưa từng trải, tôi cần có cuộc sống ổn định vậy
thôi, ổn định một cách quay cuồng trong những bận rộn lo toan của người phụ
nữ hầu như nuôi con một mình vì chồng đi bộ đội xa nhà. Tuy nhiên, trong câu chuyện này, nghĩ lại -
tôi đã cư xử chẳng ra gì. Tôi thừa biết rằng anh không muốn và sẽ không đến dự
đám cưới của tôi, vậy sao tôi đã thân thiết với anh mà không nói trực tiếp với
anh được mấy lời chân tình hơn, mà lại gửi cho anh cái thiếp lạnh lùng như thế?
Tôi lúng túng vì lẽ gì, tôi bận rộn quá nên “đại tiện” mọi việc, hay là tôi quá
vô tâm, để anh phải cư xử lại “bất bình thường” và rồi phải nhận lấy lỗi “trẻ
con dỗi dằn” ấy về anh? để rồi tôi tự “có cái cớ” mà quên hẳn bóng hình anh
trong suốt 12 năm đến nỗi dứt khoát không liên lạc với anh nữa, trái hẳn lại với
ngày nào tôi bảo rằng “dù vật đổi sao dời, mãi mãi em không bao giờ quên được
anh, một người bạn lớn bị tật nguyền về thể xác nhưng trí tuệ tâm hồn thì thật
tuyệt vời và nghị lực phi thường hiếm có”. Thế đấy, đời là chốn vô thường mà!
“Xám hối” và trăn trở vậy nhưng thật ra “đổ” tại “duyên trời định” có lẽ vẫn thỏa
đáng hơn. Làm sao tôi có thể là đứa nói xạo chứ? Mà thực ra trong cả quá trình
thân thiết với anh Thư, tôi có lừa dối anh bao giờ đâu? Tôi không “khoe” hạnh
phúc của tôi và Minh Quang, nhưng tôi đã nhiều lần buộc phải nói vắn gọn nhưng
rõ ràng là chúng tôi yêu nhau lắm để
không thể có bất cứ sự hiểu lầm nào cơ mà? Hay là tại vì tính tôi, bất luận sai
hay đúng, tôi quen Minh Quang luôn phải làm lành trước với tôi mỗi khi có những xung đột
trong cuộc sống vợ chồng, mà Minh Quang thì lành hiền tính tình vui vẻ không “chấp” tôi
nên anh Hoàng Thư phải chịu hậu quả về cái tính xấu cố hữu của tôi ư?
Trở về thực
tại, dòng thư với nét chữ quen thuộc của anh Thư lại nhảy múa trước mắt tôi.
Chúng gọi ngày xưa trở về. Tôi tự thầm oán trách mình mà chỉ im lặng không một
lời giải thích. Tôi chỉ sửa lỗi bằng cách đến thăm anh ngay. Chúng tôi coi như
không có chuyện gì căng thẳng, lại vui vẻ tự nhiên trò chuyện. Nhưng giờ đây
tôi không còn là cô gái lẻn trốn mẹ trốn người yêu để đến với anh trong ít phút
vội vàng nữa. Tôi là phụ nữ có chồng có tận ba đứa con. Tôi có thể tranh thủ thời
gian thăm anh mỗi tuần mỗi tháng, nhưng tôi phải dắt con đến, hoặc phải cố rủ một
cô bạn gái thân thiết hiểu tôi, hiểu về tình bạn giữa chúng tôi đi cùng. Nghĩa
là tự tôi không chấp nhận tôi đến thăm anh mà chỉ có một mình. Tôi sợ anh có
phút giây nào yếu đuối, tôi sợ cái cứng rắn lạnh lùng vốn không phải là bản chất
của tôi vô tình làm tổn thương anh. Tôi sợ đủ thứ. Nhưng thực ra, anh Thư vui lắm
và đơn giản hơn tôi tưởng. Anh đã khác hẳn ngày xưa rồi. Anh đã làm Trưởng
phòng của một cơ quan nghiên cứu kinh tế, anh đã gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam. Tôi không có ý định ca ngợi rằng
anh vào Đảng tức là anh tốt hơn ngày xưa, anh làm công tác quản lý nghĩa là anh
“oai” hơn giỏi hơn ngày xưa. Điều làm cho tôi vui là tôi hiểu anh đã hòa mình
vào cuộc sống, đã thực sự là người bạn giữa đông đảo bạn bè đồng nghiệp, là người
cán bộ mẫn cán không chỉ thầm lặng làm việc một mình mà bên anh đã có “đồng đội”
– những con người mộc mạc chân thật của cuộc đời vốn dĩ cái thiện vẫn là gốc mà
chẳng có cớ gì anh lại lánh xa họ mãi. Và từ trong sâu thẳm, tôi rất vui thoáng
một chút tự hào khi nhớ lại lời anh năm nào “ảnh hưởng của Thư đã đần dần thay đổi cả nếp sống của anh rồi đó”.
Giống với ngày xưa, anh luôn mong được gặp tôi trò chuyện, nhưng khác ngày xưa anh không còn gửi tôi những dòng thư yêu thương nồng nàn mà ủy mị buồn nản nữa. Mỗi lần tôi đến, anh vừa hỏi chuyện, vừa liên tay rót nước trà mạn đặc ép tôi uống rồi liên miên chuyển chủ đề khiến tôi không thể nào đứng lên cáo từ ra về. Khổ thân tôi, tôi có biết uống trà đâu nhưng nể anh nên phải uống. Có lần, tôi đang nhịn đói (nhà hết gạo chưa mua được chỉ còn lưng bơ nấu cháo cầm hơi nhường mấy bà cháu), mà uống trà nhiều quá, nên tôi lăn ra chóng mặt gục đầu xuống bàn. May vì có bạn gái đi cùng nên tôi đã nhờ cô ấy mà “thoát thân” đưa về nhà trong nỗi thương anh thương mình thật khó tả.
Giống với ngày xưa, anh luôn mong được gặp tôi trò chuyện, nhưng khác ngày xưa anh không còn gửi tôi những dòng thư yêu thương nồng nàn mà ủy mị buồn nản nữa. Mỗi lần tôi đến, anh vừa hỏi chuyện, vừa liên tay rót nước trà mạn đặc ép tôi uống rồi liên miên chuyển chủ đề khiến tôi không thể nào đứng lên cáo từ ra về. Khổ thân tôi, tôi có biết uống trà đâu nhưng nể anh nên phải uống. Có lần, tôi đang nhịn đói (nhà hết gạo chưa mua được chỉ còn lưng bơ nấu cháo cầm hơi nhường mấy bà cháu), mà uống trà nhiều quá, nên tôi lăn ra chóng mặt gục đầu xuống bàn. May vì có bạn gái đi cùng nên tôi đã nhờ cô ấy mà “thoát thân” đưa về nhà trong nỗi thương anh thương mình thật khó tả.
Khổ quá, đói
nghèo quá cũng có lúc sung sướng. Năm 1985 khi tôi lần đầu tiên được sang
Bangkok học ngắn ngày, tôi choáng ngợp
trước những tòa nhà hiện đại cao ngất trời, những đường phố rộng ken chặt hàng
trăm hàng ngàn chiếc xe bóng lộn đi trật tự trên đường phố mà không thấy bóng một
cảnh sát nào, những cửa hiệu, siêu thị tràn ngập hàng hóa đủ sắc màu chủng lọai
với các luồng thang máy cuốn dòng người tấp nập… Một lần, tình cờ tôi đi ngang
qua quầy xà phòng thơm, bỗng tôi ngậm ngùi nhớ về Hà Nội một thời bom đạn, một
thời bao cấp tôi cùng Minh Quang đi mua tích trữ một đống xà phòng giặt Liên Xô để vào
gậm giường để phòng ngừa lúc thiếu thốn, tôi nhớ cái mùi hôi hôi nồng nồng của
chúng tôi trên chiếc giường ngủ tồi tàn bốn chân gẫy một Minh Quang phải tự đóng thay
chân khác, tôi thoáng có ý định mua một loạt bánh xà phòng thơm đủ loại này về cả nhà dùng cho
bõ tức, song nghĩ đến túi tiền của mình, đến cuộc sống còn quá khốn khó của gia
đình mình, tôi bấm bụng “nhịn”, và chỉ mua đúng một bánh xà phòng Camay đen mà
thôi. Mà bánh xà phòng thơm duy nhất ấy lại là dành cho anh Hoàng Thư chứ không
phải cho bố, mẹ, chồng, con, anh chị em hay bạn bè nào khác. Tôi còn nhớ như
in, bánh xà phòng ấy thơm đến mức tôi cầm nó một tí rồi cất vào va ly, vậy mà
mùi thơm còn mãi trên tay, tôi không dám rửa tay hàng bao nhiêu giờ sau đó mà
ngửi lại vẫn sực nức. Tôi tưởng tượng ngay ra khi tôi trao nó cho anh Thư,
không biết anh có thích không chứ tôi thì quá xúc động là cầm chắc rồi! Thế đấy
tình cảm và sự quan tâm của tôi tới anh chỉ nho nhỏ vậy thôi, nhưng xuất phát từ
tấm lòng của tôi với anh, và dĩ nhiên tôi chẳng thể kể với anh chi tiết về nó.
Mặc dù rất bận việc nhà việc cơ quan, nhưng tôi luôn tranh thủ thời gian để thăm anh Thư thật nhiều. Anh không còn ở cơ quan tôi nữa. Anh đã chuyển công tác đi nơi khác lâu rồi, nên ngoài việc tới nhà riêng, thi thoảng tôi sang cơ quan anh chuyện phiếm mà anh rất lấy làm thú vị. Có việc gì khó khăn, tôi cũng hỏi anh và nhận được khuyên bảo thật chân tình.
Thế rồi, bẵng một thời gian, tôi bận đi công tác địa phương, và bấn bíu với con cái học hành, tôi không liên lạc với anh. Tôi cũng chủ quan là sức khỏe anh khá tốt, tinh thần anh thì thoải mái, công việc của anh cũng bận rộn. Nào ngờ tới một hôm, tôi nhận được hung tin là anh ốm nặng đang điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị. Thực ra anh bệnh đã lâu lâu rồi, nhưng đến khi nặng quá, anh mới nhờ mấy cô nhân viên liên lạc báo tin. Nghe người ta kể, anh bị đau tim rất nặng đã đến giai đoạn cuối khó qua khỏi, anh phải chữa bệnh tốn kém lắm, mà kinh tế của anh thì eo hẹp, anh không có tiền để bồi dưỡng sức khỏe. Tôi nghe mà rụng rời tay chân. Tôi tự trách mình thân với anh mà chẳng mấy khi quan tâm đến bạn. Trong khi tôi chóng mặt, đau đầu, tôi hơi xổ mũi ho hung hắng là anh đã biết ngay. Còn tôi, tôi chỉ biết rằng anh bị tật bẩm sinh nên sức yếu, anh nói nhỏ và hay phải thở hổn hển, anh hay bị tức ngực nhất là khi thay đổi thời tiết, chứ tôi hoàn toàn không biết gì về bệnh tim của anh cả.
Ngay tối hôm nhận được tin, ở chỗ làm về, tôi hớt hải đến thẳng bệnh viện tìm thăm anh. Trên giường bệnh, anh Thư nằm tựa vào gối cao, khó thở, nhưng hoàn toàn tỉnh táo. Anh không gầy đi, vì vốn cũng đã gầy rồi, nhưng da xanh xao lắm. Có vẻ như vì nhờ bạn báo tin, nên anh không mấy ngạc nhiên khi tôi tới thăm, tuy nhiên nét mặt anh rạng rỡ dần lên. Anh tự ngồi dạy dựa lưng vào tường nói chuyện với tôi. Tôi trách nhẹ anh không báo cho tôi biết sớm, anh mỉm cười thật hiền rằng anh biết tôi rất bận và vất vả với con cái, và anh cũng không ngờ được kết cục bệnh lại nặng đến vậy. Anh mệt mà còn nhớ hỏi tôi dạo này làm việc thế nào có gì mới mẻ thú vị, hỏi thăm con gái tôi đã đi học ở Nga chưa, chồng tôi có hay được về với vợ con không …
Mặc dù rất bận việc nhà việc cơ quan, nhưng tôi luôn tranh thủ thời gian để thăm anh Thư thật nhiều. Anh không còn ở cơ quan tôi nữa. Anh đã chuyển công tác đi nơi khác lâu rồi, nên ngoài việc tới nhà riêng, thi thoảng tôi sang cơ quan anh chuyện phiếm mà anh rất lấy làm thú vị. Có việc gì khó khăn, tôi cũng hỏi anh và nhận được khuyên bảo thật chân tình.
Thế rồi, bẵng một thời gian, tôi bận đi công tác địa phương, và bấn bíu với con cái học hành, tôi không liên lạc với anh. Tôi cũng chủ quan là sức khỏe anh khá tốt, tinh thần anh thì thoải mái, công việc của anh cũng bận rộn. Nào ngờ tới một hôm, tôi nhận được hung tin là anh ốm nặng đang điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị. Thực ra anh bệnh đã lâu lâu rồi, nhưng đến khi nặng quá, anh mới nhờ mấy cô nhân viên liên lạc báo tin. Nghe người ta kể, anh bị đau tim rất nặng đã đến giai đoạn cuối khó qua khỏi, anh phải chữa bệnh tốn kém lắm, mà kinh tế của anh thì eo hẹp, anh không có tiền để bồi dưỡng sức khỏe. Tôi nghe mà rụng rời tay chân. Tôi tự trách mình thân với anh mà chẳng mấy khi quan tâm đến bạn. Trong khi tôi chóng mặt, đau đầu, tôi hơi xổ mũi ho hung hắng là anh đã biết ngay. Còn tôi, tôi chỉ biết rằng anh bị tật bẩm sinh nên sức yếu, anh nói nhỏ và hay phải thở hổn hển, anh hay bị tức ngực nhất là khi thay đổi thời tiết, chứ tôi hoàn toàn không biết gì về bệnh tim của anh cả.
Ngay tối hôm nhận được tin, ở chỗ làm về, tôi hớt hải đến thẳng bệnh viện tìm thăm anh. Trên giường bệnh, anh Thư nằm tựa vào gối cao, khó thở, nhưng hoàn toàn tỉnh táo. Anh không gầy đi, vì vốn cũng đã gầy rồi, nhưng da xanh xao lắm. Có vẻ như vì nhờ bạn báo tin, nên anh không mấy ngạc nhiên khi tôi tới thăm, tuy nhiên nét mặt anh rạng rỡ dần lên. Anh tự ngồi dạy dựa lưng vào tường nói chuyện với tôi. Tôi trách nhẹ anh không báo cho tôi biết sớm, anh mỉm cười thật hiền rằng anh biết tôi rất bận và vất vả với con cái, và anh cũng không ngờ được kết cục bệnh lại nặng đến vậy. Anh mệt mà còn nhớ hỏi tôi dạo này làm việc thế nào có gì mới mẻ thú vị, hỏi thăm con gái tôi đã đi học ở Nga chưa, chồng tôi có hay được về với vợ con không …
Tôi cắt cam ra vắt cho anh uống, tôi xúc từng
thìa một, anh chăm chú uống từng ngụm khá ngon lành. Anh luôn lo lắng giục tôi
về nhà kẻo muộn. Tôi gạt đi vừa động viên anh chịu khó ăn, uống mỗi thứ một tí
cho lại sức, chứ tiêm và uống thuốc tây nhiều là hại người lắm, mà anh thì đang
yếu nữa. Anh cảm ơn tôi với ánh nhìn chân thành mà không hề yếu đuối, mệt mỏi.
Chúng tôi lại chuyện trò với nhau như biết bao lần từng là như thế nhưng hôm
nay thì là lần đầu tiên tôi chăm anh trên giường bệnh. Tôi vừa bón nước cam vừa
dỗ anh:
- Anh uống nốt đi nào, có nhạt không để em pha
thêm đường?
- Ngọt
rồi em ạ.
- Buổi
tối này anh đã uống thuốc chưa anh?
- Tôi
mới uống trước khi em vào đấy.
- (sót
xa): Nào anh gắng nhé, còn có một thìa thôi. À, hay là em về báo với nhà rồi em
vào đây với anh đêm nay nhé. Có sao không anhThư?
- Thôi
đừng. Em còn bao nhiêu việc ở nhà, mai lại đi làm sớm. Các anh chị của tôi lát
nữa đến sẽ ở lại đây chăm tôi mà. Em đừng lo. Bây giờ cũng muộn rồi thì phải.
Em về đi kẻo ở nhà mong đấy.
- (tần
ngần): Vâng ạ. Mai đi làm em sẽ ghé qua đây sớm. Anh cố ngủ một lát đi cho đỡ mệt
ạ.
- Em
về nhé. Cảm ơn em lắm.
Tôi ghé vào tai anh nói nhỏ: “Sao anh lại xưng “tôi” với em? Mai em trở lại
thăm anh, em “cấm” anh xưng hô thế đấy nhé” rồi vụt chạy ra ngoài…
Sớm hôm sau,
mới 5 giờ sáng, tôi đã vào bệnh viện để có nhiều thời gian rồi từ đó đi làm
ngay. Tôi xăm xăm tới phòng anh, nhưng chẳng thấy anh đâu. Tôi vội tìm bác sĩ trực hỏi đầy lo lắng: “Thưa bác sĩ, làm ơn cho tôi hỏi
thăm, bệnh nhân Hoàng Thư nằm phòng 303 tối qua, chuyển đi đâu rồi ạ?”.
- Anh
Hoàng Thư hôn mê sâu từ nửa đêm, chúng tôi cho chuyển lên khoa Hồi sức cấp cứu
rồi.
- Dạ
thưa…phòng ấy ở đâu bác sĩ chỉ giùm cho.
- Chị
đi thẳng đường này rồi rẽ trái, nhà D tầng 1 phòng 420.
Tôi cảm ơn người
đàn ông rồi lao tới phòng Hồi sức cấp cứu. Trong phòng, anh Thư nằm gần như bất
động, máy móc dây rợ đầy xung quanh. Chị Cảnh Hoàng chị dâu của anh đang ở đó.
Chị em tôi có quen nhau vì cùng làm trong cơ quan. Tôi lo lắng:”Em chào chị ạ. Tối
qua em thăm anh Thư tới chừng hơn 10 giờ, sớm nay quay lại thì bác sĩ bảo anh mới
chuyển sang đây…Tình hình anh Thư thế nào chị?”
- Kim Thư phải không? Thư mới chuyển đêm qua
em ạ, bất tỉnh luôn, chẳng biết gì. Em ở đâu, có gần đây không mà sao đến được
sớm thế?
- Dạ,
em ở gần, vùng chợ Giời ạ. Em đi làm ghé qua đây trước…
-
Tối
qua, Thư còn bình thường mà. Khi em mới về khoảng nửa tiếng thì vợ chồng chị
vào. Thế mà bệnh xoay chuyển nhanh quá, chừng nửa đêm nó khó thở hôn mê em ạ.
Khi chị mới vào nó gửi chị đưa em lá thư này đây.
Tôi run run xé mép phong bì, mấy tờ pơ luya ghi những dòng nhật kí của anh với nét chữ quen thuộc: ”Trời! Chết bây giờ
kể cũng buồn.
Nhưng thôi,
chết phải chăng là lối thoát tuyệt vời nhất cho bao cái bế tắc hôm nay…Kim Thư ơi! Không hiểu
sao mấy ngày nay anh hay nhắc đến cái chết, liệu có phải điềm gở không em? Anh
kiệt sức thật rồi…Mà lúc nãy em tới đây thăm, anh không dám nói gì với em…
Anh sẽ không bao giờ quên tên em, vì
chẳng bao giờ anh quên được tên anh, hỡi người bạn cùng tên vô cùng mến thương
của anh.
Nhưng có một điều chắc chắn là ý nghĩ
cuối cùng của anh trước khi chết sẽ hướng về em. Anh sẽ dành tiếng nói cuối
cùng để gọi tên em và người ta cũng chẳng cười anh được vì họ tưởng rằng anh tự
gọi tên mình thôi”…
Mắt tôi nhòe đi… Tôi gắng gượng trở lại
bình thường nói với chị: “Vâng, tối qua lúc em tới, anh Thư còn nói chuyện vui vẻ lắm và uống hết
cốc nước cam. Thật không ngờ anh mệt nặng nhanh thế”. Chị Cảnh Hoàng buồn rầu kể:
“Đêm qua, trước lúc hôn mê, chị thấy nó cứ gọi gì Thư…Thư, và ràn rụa nước mắt.
Chị không hiểu, chị hỏi “Thư cần gì hả em” mà nó im lặng em ạ…” Tôi sụt sịt: “Tội
nghiệp anh Thư quá. Chị ơi, cho em ra hỏi chuyện xem anh ấy có tỉnh không chị
nhé”. Chị Cảnh Hoàng gật đầu: “Ừ em cứ hỏi Thư đi”.
Tôi tới bên giường bệnh, sờ trán anh, khẽ lay gọi: “Anh Thư ơi! Em đây…Kim Thư đây…” Anh Hoàng Thư mở mắt nhìn… Tôi thì thào:”Anh có mệt lắm không ạ?” Anh chỉ im lặng…Tôi nắm lấy bàn tay gầy guộc của anh: “Anh có nhận ra em không ạ?” Anh khẽ gật đầu. Vậy là anh tỉnh rồi. Tôi nhẹ nhàng: “Anh có dễ thở không anh? Có hả? Vậy anh ngủ đi một lát. Em xoa lên trán anh nhé và hát cho anh nghe này… Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng cây bàng lá đỏ nằm kề bên nhau phố xưa nhà cổ mái ngói thơm nâu…”
Tôi tới bên giường bệnh, sờ trán anh, khẽ lay gọi: “Anh Thư ơi! Em đây…Kim Thư đây…” Anh Hoàng Thư mở mắt nhìn… Tôi thì thào:”Anh có mệt lắm không ạ?” Anh chỉ im lặng…Tôi nắm lấy bàn tay gầy guộc của anh: “Anh có nhận ra em không ạ?” Anh khẽ gật đầu. Vậy là anh tỉnh rồi. Tôi nhẹ nhàng: “Anh có dễ thở không anh? Có hả? Vậy anh ngủ đi một lát. Em xoa lên trán anh nhé và hát cho anh nghe này… Hà Nội mùa thu, cây cơm nguội vàng cây bàng lá đỏ nằm kề bên nhau phố xưa nhà cổ mái ngói thơm nâu…”
Suốt trong
khoảng một tuần sau đó, ngày nào tôi cũng đến thăm anh và ở lại rất lâu trong bệnh
viện cùng anh chị của anh để chăm sóc anh. Phần lớn thời gian anh ở tình trạng
hôn mê sâu, rất sâu. Đôi lúc anh mới tỉnh, anh chăm chú nhìn tôi và những giọt
nước mắt rơi đã thay điều anh muốn nói.
Và anh cứ yếu
dần yếu dần, anh đã ra đi vì một cơn đau tim đột quị.
Hôm sau nữa tang lễ anh cử hành tại bệnh viện. Tôi nói với chồng: “Anh Minh Quang ơi, anh Hoàng Thư mất rồi. Em phải qua bệnh viện dự tang lễ bây giờ…Anh ở nhà nhắc các con ăn sáng đi học và đừng chờ em nhé”. Chồng tôi vẻ ái ngại: “Ừ, em đi. Nhớ thắp giùm anh một nén nhang cho anh ấy”. Tôi phải cố kìm nén không thì tôi đã ôm chầm lấy Minh Quang mà khóc rồi. Từ bao nhiêu năm nay kể cả từ những ngày đầu mới thân với anh Hoàng Thư, tôi đều kể cho Minh Quang mà, tôi không dấu diếm quan hệ thân tình ấy. Chỉ có điều, không bao giờ Minh Quang có thể đọc được những bức thư anh Thư gửi cho tôi. Và Minh Quang cũng không biết việc anh Thư trả lại thiếp cưới cũng như chi tiết về việc tôi “trốn” mẹ và Minh Quang để đi thăm anh ấy ngày nào, lại càng không thể biết giấc mơ tôi cưới Hoàng Thư. Còn sau này, tôi thường dắt các con lên thăm bác Thư thì hầu như lần nào tôi cũng nói với Minh Quang, chỉ trừ khi Minh Quang vắng nhà thôi. Mọi chuyện đã qua rồi, người bạn lớn của tôi đã vĩnh viễn ra đi để tôi khỏi phải lẩn tránh những niềm thương nỗi nhớ thẳm sâu trong những lúc chúng tôi còn “duyên” mà đến với nhau nữa…
Hôm sau nữa tang lễ anh cử hành tại bệnh viện. Tôi nói với chồng: “Anh Minh Quang ơi, anh Hoàng Thư mất rồi. Em phải qua bệnh viện dự tang lễ bây giờ…Anh ở nhà nhắc các con ăn sáng đi học và đừng chờ em nhé”. Chồng tôi vẻ ái ngại: “Ừ, em đi. Nhớ thắp giùm anh một nén nhang cho anh ấy”. Tôi phải cố kìm nén không thì tôi đã ôm chầm lấy Minh Quang mà khóc rồi. Từ bao nhiêu năm nay kể cả từ những ngày đầu mới thân với anh Hoàng Thư, tôi đều kể cho Minh Quang mà, tôi không dấu diếm quan hệ thân tình ấy. Chỉ có điều, không bao giờ Minh Quang có thể đọc được những bức thư anh Thư gửi cho tôi. Và Minh Quang cũng không biết việc anh Thư trả lại thiếp cưới cũng như chi tiết về việc tôi “trốn” mẹ và Minh Quang để đi thăm anh ấy ngày nào, lại càng không thể biết giấc mơ tôi cưới Hoàng Thư. Còn sau này, tôi thường dắt các con lên thăm bác Thư thì hầu như lần nào tôi cũng nói với Minh Quang, chỉ trừ khi Minh Quang vắng nhà thôi. Mọi chuyện đã qua rồi, người bạn lớn của tôi đã vĩnh viễn ra đi để tôi khỏi phải lẩn tránh những niềm thương nỗi nhớ thẳm sâu trong những lúc chúng tôi còn “duyên” mà đến với nhau nữa…
Dự đám tang
có đông đủ gia đình, lãnh đạo, bạn bè đồng nghiệp của anh. Tôi đã không kìm nén
được, òa khóc nức nở một cách lạ lùng và bất thường. Tôi đã khóc suốt, mà khóc
to nữa hầu như át mọi tiếng khóc. Tôi không biết niệm A di đà Phật như bây giờ
để cầu cho anh vãng sanh về nơi cực lạc. Trong phút chốc gần như mê muội, tôi
thầm hỏi các đấng siêu nhân nào không rõ, sao không đưa tôi về một giấc mơ, tái
lại cảnh đám cưới tôi lấy Hoàng Thư, rồi tiếp đến cảnh đám tang anh như thế
này, để tôi để tang anh như vợ để tang chồng? và lúc đó, bao nhiêu vòng hoa trắng
muốt sẽ biến thành những vòng hoa với đủ sắc mầu của cuộc đời trao tặng gửi gấm
tiễn đưa anh. Tôi không kịp nghĩ nói lời xin lỗi với chồng tôi, tôi cũng chẳng
kịp hình dung Minh Quang có đủ độ lượng để chấp nhận những ý nghĩ bất thường mà thực ra
là rất dung dị này của người vợ đã đang và mãi mãi chung thủy với Minh Quang hay không.
Còn cái đám đông, rất đông khách dự tang lễ ấy, hình như ai cũng nhìn tôi bằng
con mắt ái ngại nhưng vô cùng kinh ngạc, bởi lẽ họ chứng kiến quá bất ngờ nỗi
đau đớn của tôi khi tiễn đưa anh Hoàng Thư về cõi vĩnh hằng, họ không thể hình
dung tôi là ai, thân với anh Thư từ bao giờ, thân đến mức nào, và vì sao tiếng
khóc tiếc thương anh Thư của tôi lại thê thảm đến nhường ấy…
Tôi tiễn
anh, và ngay sau đó tôi được biệt phái vào Đà Nẵng gần một năm. Âu cũng là trời
sắp đặt như vậy, chứ nếu tôi đi xa trước đó chỉ ít ngày thì tôi không thể ở bên
anh trong những giờ phút cuối cùng. Tôi sẽ chỉ còn biết ngậm ngùi mỗi khi đến
viếng thăm mộ anh, ở giữa cánh đồng hoa Nhật Tân, và thì thầm : “Em chào anh ạ.
Anh chắc còn nhớ em chứ anh Thư? Em mong anh
hãy trở về nói chuyện với em nữa đi anh! Em xin phép dẫm lên chỗ này, để làm cỏ
và lau dọn anh nhé! Anh Thư ơi! Lâu nay em vẫn sống, gắng sống bình thường và tự
tạo cho mình hạnh phúc. Em vẫn nhớ đến anh, nhớ những ngày xưa, nhớ mãi. Cầu
mong nơi thế giới bên kia, anh được khỏe mạnh, an lành, được thỏa sức say mê những
ước mơ và thực hiện mơ ước của mình nhé anh!…”
Tôi ra về,
và trong gió lay động những cánh hoa đủ màu khoe sắc thắm, tôi vẫn như nghe vẳng
đâu đây tiếng gọi của anh Thư:” Kim Thư ơi! anh muốn gọi em ngàn lần, người bạn
cùng tên mà anh mến thương…”, nghe để cảm nhận đến tận cùng trong cái vô biên
thinh lặng tình người…
Hà Nội 29
tháng 12 năm 2014
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét